October 20, 2017

Tôn giáo đã thất bại chưa?

Thế giới ngày nay đã lâm vào cảnh bi đát chưa từng có. Lòng tham của Loài Người vô bờ bến và đang đẩy chúng ta lảo đảo đến cạnh hủy diệt, mà không tự biết rằng mình còn giữ thăng bằng được bao lâu hay là rồi sẽ rơi xuống vực thẳm.
 
            Tôn giáo mang các giải đáp cho vấn đề của chúng ta – thậm chí cho vấn đề trọng đại nhất như: “Hiện hữu hay không hiện hữu”. Trong khi tôn giáo chủ trương sống thánh thiện và lành mạnh để làm kim chỉ nam cho chúng ta theo đó mà sống, nhưng tại sao trên thế giới hiện nay vẫn chưa có hòa bình? Câu hỏi nầy phải được nêu lên, và chúng ta phải hỏi một cách thành thật và mạnh dạn: Tôn giáo đã thất bại chưa?
 
            Và tôi trả lời rằng: “Chưa! Tôn giáo chưa thất bại, chính con người đã thất bại vì họ không ứng dụng Tôn giáo vào cuộc sống của họ.”
 
Thật là lạ lùng, biết bao người nghĩ rằng tôn giáo chỉ cần nhớ vào những ngày “đặc biệt”, như ngày Noel, ngày Phật Đản, ngày đám cưới, đám tang v.v… và khi những ngày “đặc biệt” qua rồi, thì Tôn Giáo được cất vào tủ chung với những bộ quần áo đẹp nhất, và nằm đó chờ đến ngày “đặc biêt” kế tiếp. Hoặc là họ nghĩ rằng Tôn Giáo chỉ được dành riêng cho những người ở trong chùa hay tu viện; họ cũng không nghĩ Tôn Giáo là của họ nữa. Cho nên Tôn Giáo đã trở thành một cái gì “đặc biệt” mà không phải là một cái gì để chúng ta theo đó mà sống.
 
            Xin phép cho tôi nói với quí vị tôi nghĩ về Tôn Giáo. Tôi nghĩ Tôn Giáo chẳng có gì “đặc biệt” cả mà lại là một cái gì tầm thường, rất tầm thưòng, như mọi sự việc hằng ngày. Nhưng khi tôi nói tầm thường, không có nghĩa là nó vô dụng hay không quan trọng; ngược lại ý tôi muốn nói là “tầm thường” như không khí và nước vậy; giả sử chúng ta thiếu những thứ ấy, chúng ta sẽ chết trong chốc lát. Tôn giáo, cũng “tầm thường” và quan trọng như vậy trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta; nó quan trọng là vì nó tầm thường; nó tầm thường là vì nó quan trọng; nó cần thiết về mặt tinh thần cũng như các quan hệ qua lại giữa chúng ta và mọi người xung quanh. Thật là một điều bất hạnh vì nhiều người ngày nay cho rằng Tôn Giáo đã lỗi thời, chỉ đáng được dành cho những cụ bà tay lần xâu chuỗi mà thôi. Thật là bậy chưa từng có. Tôn Giáo là khoa học để sống và để sống lành mạnh.
 
            Chúng ta sống phải nhờ đến những người xung quanh, phải vậy không? Ở trên đời nầy có ai không nhờ đến những người khác? Có người nào sống biệt lập không? Thậm chí những người giầu nhất, có thế lực nhất cũng phải sống nhờ những người khác; đúng ra, những người nầy lại cần nhờ đến những người khác nhiều hơn so với những người nghèo, vì đa số những người nầy họ chưa từng tự tay rửa một cái tách, hay đánh bóng một đôi giày của mình. Điều nầy có nghĩa là chúng ta và những người khác có một mối quan hệ với nhau qua sự tiếp xúc, và nhờ vả đến họ. Cho nên chúng ta có nhiều quan hệ hơn chúng ta tưởng. Và do mối quan hệ chúng ta với họ, chúng ta cần đến Tôn Giáo, để cho cuộc sống chung được hòa bình và hạnh phúc, đối xử công bằng và thương yêu lẫn nhau. Không có Tôn Giáo – tức là không có CÔNG LÝ hay CHÍNH NGHĨA – trong việc đối xử với nhau thì nghi kị, sợ hãi, tham lam và thù hận rất dễ dàng len lỏi vào tâm của chúng ta, và đưa đến thói lừa lọc, gạt gẫm, bóc lột, hành hạ, hung hãn và chiến tranh, vì chiến tranh bắt nguồn từ tâm hồn vắng bóng Tôn Giáo; nếu trong tâm chúng ta có Tôn Giáo thì sẽ không có chiến tranh.
 
            Thật vô ích nếu chỉ ngồi ì đó mà nhìn máy giặt hay máy hút bụi, chờ cho máy làm việc, bởi máy sẽ chẳng bao giờ tự hoạt động: Chúng ta phải ra tay điều khiển, máy mới làm việc. Và Tôn Giáo cũng vậy: mình phải hành trì nó! Tôn Giáo không phải là một mớ lý thuyết, giáo điều hay niềm tin – những món đồ trong viện bảo tàng: sách cổ, đá cổ, xương khô – mà phải là một kinh nghiệm sống động. Và cũng không gì là mê tín, huyền bí hay phép lạ cả.
 
            Chúng ta đã nhầm chỗ từ lúc bắt đầu; đầu óc chúng ta hay ở trên mây, mơ tưởng về Thiên Đàng, Giác Ngộ, Niết Bàn, v.v…Chúng ta giống như những người muốn xây dựng một căn nhà mà, tưởng rằng có thể xây từ nóc và không nghĩ gì về nền móng cả. Sao mà cất thành căn nhà được? Chúng ta chỉ quan tâm đến hoa và quả, chứ không lưu ý đến hạt giống và gốc rễ. Do đó, chẳng trách chúng ta đã lầm lẫn, và nhảy từ Tôn Giáo nầy qua Tôn Giáo khác, tưởng rằng đổi một cái tên là có thể tự thay đổi được gì chăng? – À! Có thể thay đổi chứ, một thay đổi tiêu cực: nó làm con người đần hơn; làm cho họ xa cách chân lý hơn, xa cách Tôn Giáo chân chính ở ngay trong tâm họ, nó đã ở ngay trong tâm họ lúc ban đầu và sẽ mãi mãi ở đấy, nhưng rất tiếc họ không thấy được.
 
Người ta nghĩ rằng họ sùng đạo chỉ qua cách xưng hô là “Phật Tử”, “Ki Tô Hữu”, “tên này” hay “tên nọ” và qua sự tin vào một vài điều nào đó. Họ chỉ tự dối mình họ thôi.
 
            Tôn Giáo không phải là chuyện “tin” mà phải sống ra làm sao, và cũng không cần một cái tên gì hết. Nếu một người sống theo lẽ đạo thì sẽ thấy rằng tên chỉ là cái gì bên ngoài và không cần thiết.
 
            Chúng ta không biết Tôn Giáo chân chính là gì bởi chúng ta đã bị điều kiện hóa từ lúc ra đời. – không! Còn trước đó nữa; trong kiếp nầy chúng ta đã điều kiện hóa từ lúc thụ thai, và trong khi còn nằm trong bụng mẹ (tôi không đủ tư cách để nói về những gì đã có trong kiếp trước, hay kiếp sau, bởi tôi không có bằng chứng về điều đó, nhưng chỉ dựa trên ý kiến cá nhân, ý kiến nầy không giúp được gì cho những ai đang tìm chân lý). Nếu chúng ta hiểu được ít nhiều về (việc mình bị điều kiện hóa), thì vấn đề tự do ý chí không cần phải bàn đến bởi vì nếu ai đó sống trong phạm vi điều kiện hóa của mình và hành xử theo cách ấy làm sao ý chí có thể tự do được? Nền giáo dục chúng ta tiếp thu – hay phải nói là chịu đựng và chúng ta đã trải qua – ở trường học, cao đẳng và đại học – đóng một vai trò rất lớn trong việc điều kiện hóa chúng ta. Chúng ta có nhận thức về điểm này không? Tâm trí chúng ta nhồi nhét đầy nhựng dữ kiện, và hình ảnh bởi những người khác; chúng ta buộc phải nuốt mớ kiến thức tựa như gà được vỗ béo trong trại chăn nuôi để cung ứng cho thị trường; nói một cách khác, chúng ta đã bị nhồi sọ! Nhưng chúng ta tự mình hiểu được bao nhiêu?
 
            Những gì viết ra đây bạn có thể hiểu được. – cái nầy dễ – nhưng bạn có hiểu nó sâu trong thâm tâm của mình, và bạn có thể sống theo hiểu biết của mình được không? Đây là dịp lấy lửa thử vàng; đây là cái làm cho chúng ta sống theo lẽ Đạo, chứ không chỉ đến chùa hay nhà thờ quì lạy và cầu nguyện, rồi thỉnh thoảng bỏ chút tiền vào thùng quyên góp.
 
            Hệ thống giáo dục đã làm hại, bóp méo, nhồi sọ chúng ta và làm cho chúng ta tin rằng chỉ có kiến thức đã nhồi nhét mới là phần giáo dục có giá trị mà thôi! Cho nên những mảnh bằng được coi là tối quan trọng, còn con người ra sao thì không còn là vấn đề nữa. Văn bằng là quan trọng hơn tất cả. Như vậy, chúng ta trở thành người giấy rồi, phải không? Đâu phải chỉ vì một người học đại học, và ra trường với xấp bằng cấp là dấu chứng của sự khôn ngoan và một người khác không học đại học và không có văn bằng, không có nghĩa rằng người đó là kẻ dốt!
 
            Theo tôi được biết, Đức Phật không có bằng gì cả, như vậy chúng ta có thể vì thế mà coi Ngài là một kẻ vô học, cục mịch hay sao? Chúng ta đã bị đảo điên khi đánh giá cuộc sống như vậy!
 
Ngày nay, nếu có một vị Phật giáng thế, có người  sẽ đến hỏi về “lý lịch học vấn” của Ngài, và muốn biết Ngài đã có văn bằng nào; nếu Ngài không có bằng tiến sĩ, họ sẽ sửng sốt: “Cái gì? Không có bằng tiến sĩ hả? Làm gì ông Phật có bằng tiến sĩ? Không thể được!”
 
            Trong mấy năm vừa qua, cuộc sống đã trôi đi thật nhanh, và ngày càng trở nên rất phức tạp, và chúng ta cũng trở thành quá lõi đời (theo định nghĩa của từ nầy trong tự điển làđã học hỏi các mánh khóe của thế gian, và đã đánh mất tâm hồn nhiên, chất phác”, cho nên không có gì đáng lấy làm hãnh diện); nền giáo dục đã hầu như đã dẫn dắt chúng ta đến mức diệt vong; họ dạy chúng ta suy nghĩ những gì chứ không phải nên suy nghĩ như thế nào. Nhưng chúng ta có vì vậy mà hạnh phúc không? Tình trạng của xã hội cho chúng ta thấy rõ là chúng ta không có hạnh phúc. Vâng, nền giáo dục đào tạo chúng ta thành những nhà chuyên môn, và như vậy, chỉ làm cho chúng ta trở nên hẹp hòi.
 
            Vâng, nền giáo dục un đúc chúng ta thành những người có hiệu năng, chất lượng nhưng cũng thường làm cho chúng ta trở thành nhẫn tâm với khả năng đó. Chúng ta đã đánh mất sự nhạy cảm của mình, điều nầy không bao giờ được khuyến khích, hay vun bồi; chúng ta đã trở thành người máy, chỉ biết làm việc cho những gì đã được dạy bảo, chứ không phải bằng những gì mình đã học hỏi được. Họ đã dạy cho chúng ta để được thành công, thành Số Một, thành Nhân Vật Gì đó, và những thứ nầy vẫn là mục tiêu của cuộc đời, cho nên bất cứ cái gì cũng sẽ không thể ngăn cản chúng ta đạt được những mục tiêu ấy; nếu đạt được rồi thì chúng ta lại sẽ có một cái gì đó để mà phải giữ và bảo vệ, cho nên nỗi lo sợ, sự xung đột và đấu tranh cứ tiếp diễn không ngừng.
 
            Nhưng chúng ta có hạnh phúc không?
            Làm sao chúng ta có thể có hạnh phúc được?
            Thật ra, chúng ta càng khốn khó hơn dù chúng ta đã ngụy trang sự thực nầy bằng nhiều cách, cố gắng giấu giếm sự bất mãn bằng cách theo đuổi những thú vui và lợi lộc vật chất, làm ra vẻ như đang có hạnh phúc vậy. Chúng ta có những ý nghĩ cố định về hạnh phúc; chúng ta đã được uốn nắn theo ước định để nghĩ rằng hạnh phúc là sự thành công theo cái nhìn của xã hội, trở thành số Một và tậu được các món đồ đẹp đẽ mà những công ty sản xuất lớn và chính phủ muốn chúng ta sở hữu – và trả tiền để mua sắm. Không! Hạnh phúc không đến từ những thứ nầy. Thật ra, tìm hạnh phúc bằng đường lối nầy chỉ làm chúng ta càng thêm đau khổ mà thôi! Người ta sẽ làm bất cứ sự kinh khủng nào để tìm kiếm hạnh phúc. Nhiều người trong suốt đời không theo Đạo nào cả. Ý tôi muốn nói đến “nhãn hiệu Tôn Giáo” như “Phật Giáo” hay là “Ky Tô Giáo” vì những cái nhãn như vậy thường chỉ là cái vỏ trống, không chất lượng bên trong, nhãn hiệu nầy thay thế cho Tôn Giáo chân chính, thứ Tôn Giáo được thể hiện bằng cuộc sống ngay thẳng, và biết chăm lo cho người khác, chứ không chỉ nghĩ cho chính mình.
 
            Tâm trí của chúng ta đây nghẹt những thứ mà người khác đã nói hay dạy; chúng ta không thấy được vạn vật đơn thuần xung quanh chúng ta. Cái đẹp và cái tuyệt vời không ở đâu xa, mà chính  những cái nầy chúng ta rất cần phải tiếp xúc, bởi vì không nhìn thấy những vật dễ thương nầy – những vật dễ thương của thiên nhiên chứ không chỉ những cái dễ thương do con người tạo ra bên cạnh những cái xấu xa của họ, – chúng ta sẽ cảm thấy mất mát, bị tách khỏi những cái toàn thể của Cuộc Đời, một cái gì – Một cái gì  to tát – đang mất đi, không có cái gì khác thay thế được, dù chúng ta tìm kiếm đến độ muốn phát điên. Chúng ta chỉ cần lùi lại để thưởng thức giá trị của những điều vui đơn giản nhưng sâu sắc bên trong cuộc sống xung quanh chúng ta – để ngắm nhìn với niềm cảm nhận sự kỳ diệu tuyệt vời, một chú nhện cần cù siêng năng giăng chiếc lưới chằng chịt, những chị chim xây tổ cất sào, những hình hài và màu sắc tuyệt mỹ của các em côn trùng, mỗi sinh vật hoàn tất vai trò nhỏ bé của mình; để cảm nhận sức mạnh tiềm tàng của thiên nhiên đang làm cho hạt giống nẩy mầm, đâm chồi, mọc rễ trong giai đoạn đầu để trở thành một đại thụ, để nếm vị ngọt của quả trái trông thật hấp dẫn, v.v… mà hoàn toàn không phải dùng đến những lý thuyết nhỏ bé của con người để giải thích, hay qui tất cả cho một quyền năng siêu nhiên nào đó. Thật tuyệt vời làm sao khi để – qua một bên cái học từ chương trong một khoảnh khắc, để đứng lùi lại nhìn kinh ngạc trước những kỳ công của cuộc sống quanh ta, để nhận biết chúng ta là một phần tử trong đó. Đây là chính tri kiến Hợp Nhất, tri kiến nhận biết tất cả liên hệ với nhau.
 
            Và từ tri kiến nầy nảy sinh ra Tôn Giáo; chúng ta bắt đầu biết sống đạo hạnh, chăm lo không gây tổn hại cho bất cứ một cái gì, nếu có thể được, không hủy hoại bất cứ cái gì một cách không cần thiết, sống đầy tình thương, sống với cảm quan thán phục đến độ nín thở. Nếu chúng ta không quá ư lõi đời và tự mãn về kiến thức được nhồi nhét do người khác, thì chúng ta thông cảm thấy hổ thẹn để cúi đầu và cảm thông với Đất Mẹ Nhân Từ để nuôi sống chúng ta và muôn loài khác mà Đất chẳng hề trách móc than văn. Có lẽ chúng ta sẽ chia xẻ với nhau mộ cách hài hòa trong tinh thần tương thân tương ái, và sẽ nói lên những cái đẹp của sự sống để mọi người cùng nhau vui hưởng. Thiên đàng là đây, nếu chúng ta muốn. Giác Ngộ nằm trong tâm của tất cả chúng ta, chỉ cần biểu lộ nó ra mà thôi, và sống một lối sống Giác Ngộ – Càng làm như vậy thì tâm chúng ta càng mở rộng và cho mọi người khác – chúng ta sẽ càng trở nên giác ngộ hơn.
 
            Điều nầy có gì là huyền bí đâu!
 
Đại Đức Abhinyana
(hoànglonghải đánh máy lại,
từ cuốn sách “Phá chấp… Hóa Thân)
 
            Giớ thiệu:
            Đại đức Abhinyana là người Anh. Ông từng tu theo Anh Quốc Giáo, qua Thiên Chúa Giáo, qua Ấn Độ và ông ngừng lại đó, tu theo đạo Phật, sau qua Úc. Không rõ bây giờ đại đức như thế nào.
 
            Khi tôi tới trại Tỵ Nạn Bidong năm 1989, thường ghé chùa Bidong “nói chuyện chơi” với Đại Đức Thích Nguyên Đạt, ông cho tôi cuốn sách nói trên. Tôi nói là “nói chuyện chơi” vì tôi tới chùa chỉ để nói chuyện với Đại Đức, không khi nào tôi đứng hay quì trước tượng Phật để cầu nguyện hay xin xỏ điều gì, như các Phật tử thường làm. Đại Đức biết tôi “phật tại tâm”.
 
            Có cuốn sách nầy, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Phải đọc nhiều lần mới hiểu hết Đại Đức Abhinyana muốn nói điều gì và hiểu cái hay của sách. Loại sách triết học, không dễ đọc bao giờ.
 
            Trong quá trình đi định cư, tôi đem theo cuốn sách, cất vào tủ, thỉnh thoảng lấy ra đọc lại. Càng đọc, càng thấy khó hiểu, càng cố gắng, thấy sách càng hay.
 
            Sách có hai chục bài, không dài. Tôi chọn bài nầy để đánh máy lại và phổ biến đến quí vị, ai muốn đọc, cứ tự nhiên.
 
            Nhưng mục đích phổ biến của tôi là những người Cộng Sản, thiên Cộng, trong nước cũng như hải ngoại.
 
            Tại sao vậy?
            Người Cộng Sản chủ trương “tư tưởng Mác là đỉnh cao trí tuệ”, theo chủ nghĩa vô thần, và chống Tôn Giáo. Chủ nghĩa Mác cũng là một Tôn Giáo có tính đặc thù “bất khoan dung” của văn minh Địa Trung Hải. Sự xung đột tàn khốc giữa Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo La Mã là một ví dụ.
 
            Như vậy, họ cần phải đọc bài nầy, để thấy không có Tôn giáo nào là độc tôn, và thấy rõ giá trị của Tôn Giáo đối với Con Người. Tôi không gọi sự “lợi ích” của Tôn Giáo, bởi vì trong Tôn Giáo mà nói tới “lợi ích” thì Tôn Giáo đó mất đi cái giá trị của nó đi nhiều.
 
            Tôi nói tới “giá trị của Tôn Giáo”. Và muốn hiểu giá trị của nó như thế nào, xin quí độc giả hãy đọc lại bài nầy một lần nữa.
 
            Càng đọc nhiều lần, càng thấy hay. Xin đừng ngại ngùng
 
hoànglonghải
 
 

Comments are closed.