October 20, 2017

Hoàng Long Hải – Tân Cương trong văn chương Việt Nam

Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ,
 
Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ.
Chiều lại tìm nào có tiêu hao.
Ngập ngừng gió thổi chéo bào
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.
(Chinh Phụ ngâm)
 
(Thân tặng Kiều Diệm, “cô” bạn học cũ lớp Đệ Nhất A-2, NK 1957-58)
 
 
 Bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu nói tới ba địa danh: Lầu Hoàng Hạc, Hán Dương và Bãi Anh Vũ.
 
Hoàng Hạc Lâu
 
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
 
            Về hai địa danh nói sau, Tản Đà dịch là:
 
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
 
            Trong phần giải nghĩa của Thi Viện, người dịch nói rõ hơn như sau:
 
“Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một
“Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.”
           
            Trước hết, xin nói về Hán Dương.
            Hán Dương là một quận của thành phố Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc (quê hương Mao Trạch Đông), là chỗ gặp nhau của hai con sông nổi tiếng bên Tầu. Đó là sông Trường Giang (Còn gọi là Dương Tử) và sông Hán Thủy.
            Vũ Hán, thành phố kế đó là Vũ Xương, là nơi chinh  chiến xảy ra mấy lần, đầy cảnh núi xương sông máu. Thời Tam Quốc dựng lầu Hoàng Hạc, cũng là nơi Tôn Quyền dời đô về đây, tranh giành với quân của Lưu Bị và Tào Tháo. Thành phố nầy cũng là đầu ngõ đi về Thiểm Tây nên đây cũng là bãi chiến trường thời Trung Nhật chiến tranh.
            Ngược lại, đây là thắng cảnh, là đề tài cho các nhà thơ Trung Hoa và Việt Nam. Ví dụ bài “Tống nhân Đông du” (Tiễn người sang Đông) của Ôn Đình Quân:
 
Hoang thú lạc hoàng diệp,
Hạo nhiên ly cố quan.
Cao phong Hán Dương độ,
Sơ nhật dĩnh môn sơn.
Giang thượng kỷ nhân tại,
Thiên nhai cô trạo hoàn.

Hà đương trùng tương kiến,
Tôn tửu uỷ ly nhan
 
            “Cao phong Hán Dương độ” có nghĩa là “Gió lộng trên bờ sông Hán Dương” hay “Giang thượng kỷ nhân tại” có nghĩa là “có bao nhiêu người còn lại bên bờ sông?”
           
Ngô Văn Phú dịch toàn bài như sau:
 
“Đồn hoang đang rụng lá vàng
Ải xưa khảng khái rộn ràng ra đi
Hán Dương gió lộng bến bờ
Dĩnh Môn vầng nhật vừa nhô khỏi rừng
Mấy người còn lại trên sông?
Mái chèo đơn lẻ bềnh bồng cõi xa
Gặp nhau lại biết bao giờ
Ngại nhìn mặt nhắp chén khà biệt ly.”

Comments are closed.