October 20, 2017

Thượng Tọa Abhinyana – Tôi, Cho Tôi, Cái của Tôi

“Thượng Tọa Abhinyana,  quốc tịch Úc, sinh năm 1946 tại Anh, trong một gia đình gốc Tin Lành, bắt đầu tiếp xúc và tín hướng Phật pháp 1970 sau chuyến du lịch Ấn Độ. Ngài xuất gia 1972 tại Mã Lai trong truyền thống PG Thái Lan, và bắt đầu giảng dạy Phật pháp từ 1979. Suốt thập niên 1980, Ngài phát tâm qua ở hẳn để giúp đỡ các trại tỵ nạn Đông Nam Á, mà lâu nhất và nhiều nhất là 2 trại Palawan và Bataan ở Phi luật tân. Ngài sống đồng cam cộng khổ, xây chùa, hướng dẫn tu học, giảng dạy, bênh vực, giúp đỡ và tổ chức nhiều công tác cộng đồng, xã hội, cứu tế cho hàng chục ngàn đồng bào Việt-Miên và hàng trăm Tăng Ni Việt Nam tỵ nạn đến đây. 


Trong 9 chuyến trở về ủy lạo nhiều chục ngàn đồng bào mới tỵ nạn đến trại ở khắp các nước Đông Nam Á từ 1985-1993, chúng tôi mấy lần trong các năm 1987, 1989 và 1991, đã được Ngài Abhinyana tiếp đón và tận tình giúp tổ chức các buổi thuyết giảng tại chùa Vạn Đức, tiếp xúc thẩm quyền Phi, UNHCR và các tôn giáo bạn, nhất là giúp tổ chức phân phát quà cứu trợ do Đồng hương Úc châu quyên tặng để Cơ Quan Cứu Tế Phật Giáo Úc châu do Tu Viện Vạn Hạnh điều hành, mang đến biếu tặng bà con tỵ nạn ở Palawan và Bataan, Philippines. 


Khi làn sóng tỵ nạn bắt đầu giảm sút và chấm dứt, Ngài Abhinyana đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới, giữ liên lạc và được kính trọng quý mến nơi rất nhiều Tăng Ni Phật tử ở Âu, Mỹ và Úc châu. Ngài thường trở về Mã Lai và nhất là Úc (cha mẹ Ngài ở Adelaide) để thăm viếng và giảng dạy tại các chùa Việt ở Sydney, Canberra, Melbourne, v.v… 


Thượng Tọa Abhinyana viên tịch lúc 5am Thứ Hai 15/4/2008 tại tư gia của người chị ruột ở vùng Nampour ở Sunshine Coast, QLD, sau mấy tháng lâm bạo bệnh. 

Bởi vì tôi nói và viết về quan niệm ngã không, hay vô-ngã của nhà Phật, nên mới đây có người hỏi rằng tôi có thực sự sống theo quan-niệm vô ngã ấy hay không.

 

Trước khi trả lời câu hỏi đó, ta hãy vắn tắt bàn xem ý niệm nầy có ý nghĩa gì đã. Như bạn biết, vào thời kỳ của Đức Phật  cũng như thời nay, có nhiều người tin rằng mọi người chúng ta có một tâm linh riêng rẽ, cá biệt, bất diệt và bất biến, còn gọi là linh hồn. Người Ấn gọi nó là “Atma”, hay Tiểu Ngã. Tuy nhiên, khi chứng ngộ, Đức Phật đã thấy rằng chẳng nơi nào có cái gì vĩnh cửu, biệt lập hay bất tử để có thể nắm lấy mà gọi là “Tôi”, “Cho Tôi” hay “Cái của Tôi”, không có cái gì tự nó có thể hiện hữu được mà phải phụ thuộc vào nhiều thứ khác để hiện hữu. Ngài nói cuộc sống là một tiến trình, chúng ta được sinh ra, tồn tại trong một thời gian, rồi mất đi, cứ thế biến đổi không ngừng. Tuy nhiên, không phải Đức Phật – là người duy nhất – ở thời đại đó đã nhìn ra điều nầy. Người Hy-Lạp cũng thấy như thế và triết gia Heraclitus đã phát biểu một câu lừng danh: “Bạn không thể nào bưóc vào một dòng sông hai lần.”

 

Nhưng đáng tiếc thay, sự phát triển của Khoa Học Phương Tây từ cơ sở sáng suốt đó đã bị diệt ngay trong trứng nước với sự xuất hiện của Ki-Tô-Giáo và đã phải nằm bất động trong suốt hơn một ngàn năm dài cho đến thời kỳ Phục Hưng ở Ý, một thời kỳ đã nhận được nhiều xúc cảm nhiều kích thích từ tư tưởng của Cổ Hy-Lạp hơn là từ tinh thần Do Thái/ Ki-Tô.

 

Ý niệm vô-ngã làm cho nhiều người sợ hãi và rúng động vì nó làm mất đi mọi lý do để sống. “Cái gì! Không có bản ngã, không có linh hồn à? Vậy thì tôi là ai đây, và còn sống để làm cái gì nữa?” Chính vì điều nầy mà Phật Giáo thường bị kết án. Kinh nghiệm bản thân của tôi, Đạo Phật là một cách sống, – chớ không phải cái gì đó để tin suông mà thôi – vì chỉ bằng cách  áp dụng những gì Đức Phật dạy, thì ta mới thấy được chân lý và giá trị của những lời dạy đó. Những ai đã từng kinh qua chân lý vô-ngã thì đều thấy rằng nó chẳng phải là điều gì đáng sợ cả, mà ngược lại còn là điều đáng vui mừng, vì nó mang ý nghĩa giải thoát chúng ta khỏi cái nhà tù chật hẹp của cái “Tôi”, “Cho Tôi” và “Cái của Tôi”.

 

Và ngay cả nếu một người chỉ thoáng nhận thức về điều nầy thôi, rồi lại rơi ngược trở lại khỏi sự bừng sáng ngắn ngủi ấy, thì mãi mãi về sau người ấy cũng biết là nó có ý nghĩa gì, dẫu rằng anh ta không phải luôn luôn sống được theo cái điều mà mình đã nhận thức. Anh ta là người có lòng tin chớ không phải là đức tin vì niềm tin là niềm tin xây dựng trên kinh nghiệm và kiến thức, – rằng cái mà Đức Phật nói về vô-ngã là sự thực, và lòng tin nầy không thể nào lay chuyển được. Thế mà mãi mãi mất đi sự tin tưởng vô căn cứ vào một linh hồn biệt lập riêng tư và bất diệt. Trừ khi một người đã giác ngộ hoàn toàn, nếu chưa thì anh ta vẫn hành động một cách ích kỷ, điều nầy là do những thói quen đã ăn mầm ăn rễ  trong con người anh ta, chớ không phải vì chuyện người đó tin vào  sự hiện hữu của linh hồn cá biệt. Hơn nữa, không ai có thể sống cuộc đời của người khác dùm cho họ được. Mọi người phải nghĩ đến mình và chăm lo cho chính mình.

 

Ta không thể trở nên giác ngộ chỉ bằng cách suy nghĩ hay nói chuyện về giác ngộ, bằng cách ước mơ được giác ngộ hay ngay cả bằng cách cố gắng đạt đến giác ngộ, vì giác ngộ không phải là cái mà chúng ta có thể kiểm soát được. Giác ngộ xảy ra khi chúng ta đã chuẩn bị chính bản thân mình và dọn mình sẵn sàng cho nó, mở rộng, trống không, và nhạy cảm. Giác ngộ sẽ đến một cách bất ngờ khi ta không nghĩ đến nó, khi không có môt suy nghĩ về Ngã chế ngự lấy Tâm và loại bỏ mọi vọng niệm ra ngoài. Giác ngộ khi đến có thể làm cho một người mù phải reo lên một cách sung sướng rằng “Thật tuyệt diệu! Thật tuyệt diệu! Tôi đã thấy! Tôi đã hiểu!”

 

Và bây giờ, để hết lo sợ việc bản thân bị hủy hoại. Chúng ta hãy nhớ lại những gì đã xảy ra cho các môn đệ của Đức Phật: Khi đạt giác ngộ họ đã không đánh mất đặc tính của họ và trở thành giống hệt như những người khác, như những bản sao bằng máy photocopy, họ cũng không được biết đến như A, B, C… hay là 1, 2, 3… Họ đã giữ được bản thể cùng những đặc tính riêng biệt của họ – A-Nan, người thị giả và cũng là đệ tử Đức Phật yêu quí nhất, nổi tiếng là có trí nhớ cực kỳ tốt. Xá Lợi Phật nổi danh về trí tuệ, và Mục Kiền Liên dẫn đầu về thần thông, v.v… Giác ngộ không phải là mất đi đặc tính của ta, mà chỉ là mất đi chủ nghĩa vị kỷ và cái tính ích kỷ. Thực ra, nó có nghĩa là một bản tính trung thực, đó là sự bất khả phân, một cái tâm hòa hợp trọn vẹn mà những biến cố bên ngoài không thể nào lay chuyển được.

 

Giống như sự phân chia độ của một hàn thử biểu, giác ngộ đến với nhiều mức độ khác nhau, và có lẽ ai cũng đã có ít nhiều kinh nghiệm về giác ngộ ở một thời điểm nao đó – một cái gì mà làm cho họ ngạc nhiên bởi cái tính giản dị và trong sáng của nó – dù kinh nghiệm ấy có thể mang tính cách trần tục chứ không hẵn là tâm linh, hoặc liên hệ sâu xa với bản chất cơ bản của đời sống. Giác ngộ tâm linh thay đổi cuộc sống một cách đáng kể, tùy theo mức độ và cường điệu của nó. Có thể nói thật chắc chắn rằng, sau khi trải qua kinh nghiệm giác ngộ tâm linh thực sự thì đời sống của ta không còn giống như cũ được nữa.

 

Tất cả chúng ta đều mang ngã-tính trong người – Cái cảm nhận về “Tôi”, “Cho Tôi” hay “Cái của Tôi” và ngã-tính đó không chỉ biến mất bằng cách giả tảng là nó không có ở đó. Thực ra, thái độ đó chỉ làm cho nó mạnh hơn mà thôi. Chúng ta không thể hoàn toàn vượt qua cái Ngã được, chỉ có Giác ngộ Hoàn toàn mới làm được điều đó.

 

Tuy nhiên, dầu chúng ta có thể còn xa với Giác ngộ, nhưng chúng ta có thể sống với một đường lối giác ngộ, không phải bằng lối giả vờ, nhưng bằng cách hết sức là thực tế. Biết rằng ngã-tính là nguồn gốc của hầu hết mọi vấn đề của chúng ta đối với những con người khác, chúng ta có thể cố gắng đổi lại, đặt Đạo thay vì cái Ngã vào trung tâm điểm của các mối quan hệ của ta với tha nhân, không còn nghĩ ai đúng ai sai, mà là luôn luôn cố gắng tìm xem cái gì đúng, cái gì sai và cố gắng hết sức mình bênh vực và sống theo điều phải.

 

Thế giới sẽ đẹp lên biết bao nhiêu nếu người ta thôi nghĩ theo một cách chủ quan theo lối “Tôi đúng, bạn sai”. Và thay vào chân thành tìm kiếm một cách khách quan điều gì đúng và điều gì sai, sẵn sàng ngồi lại thảo luận một cách sáng suốt, thay vì cư xử với nhau bằng mưu mẹo, thâm hiểm và dùng đến bạo động hay chiến tranh để giải quyết những mối bất đồng ý kiến. Sự không muốn và không thể quăng cái tôi lại đằng sau hay dẹp qua môt bên để theo đuổi điều ngay lẽ thật là dấu hiệu của tính ấu trĩ và lòng bất an. Chính sự ấu trĩ này làm cho chúng ta cảm thấy rất khó mà thú nhận những lỗi lầm của mình, và xin lỗi, thay vào đó lại thích tìm cách che dấu chúng hơn bằng những lý do nầy nọ và tạo những lỗi lầm kế tiếp, để rồi chúng ta bị nuốt trửng vào trò chơi “Giả vờ Vĩ đại” mà rất khó thoát ra được.

 

Và đây là cái “trò giữ thể diện”; đôi khi người ta đeo đuổi cái trò nầy một cách thái quá và gây nên những rắc rối không cùng. Thể diện mà thể diện là cái gì? Nếu chúng thật sự hiểu điều mà Đức Phật giảng dạy về Ngã thì hẳn chúng ta đã không lưu tâm gì đến vấn đề thể diện và tự ái nữa, mà đã vất chúng vào sọt rác, chỗ thực sự dành cho chúng.

 

Đúng vậy, cũng như bạn, tôi có cái Ngã của tôi, làm sao mà tôi có thể không có cái Ngã được khi tôi còn ở bên nầy của giác ngộ? Tại sao phải chối bỏ cái điều vẫn nằm sờ sờ ra đó? Tuy vậy, tôi đã nhận ra rằng nên bỏ cái Ngã qua một bên và tôi sẵn sàng cố gắng làm chuyện ấy. Tôi biết có nhiều người cho rằng tôi có cái Ngã rất lớn, và một bản tính quá bộc trực dễ gây mất long – ngay cả nhiều vị sư cũng đã nói như vậy. – Và tôi hỏi lại: “Thế thì đã sao? Tại sao bạn cứ quan tâm đến những chuyện như thế?” Dù rằng cái Ngã của tôi có lớn, bản tính của tôi có quá thẳng, nhưng tôi vẫn cố nhìn vượt khỏi chúng, và bất cứ ai nếu có được một chút công bình, đều thấy ngay rằng tôi chẳng kêu gọi ai theo tôi hay tin tôi cả mà hãy lắng nghe – Vâng, tôi kêu gọi người khác hãy lắng nghe những điều tôi nói  – lắng nghe và suy nghĩ cho rõ ràng và tự quyết định xem những điều gì tôi nói có đúng và có ích lợi cho họ hay không? Tôi chẳng phải là một vị cứu tinh, hay một siêu nhân. Tôi không hề tuyên bố như vậy! Đức Phật cũng đã nói rất rõ ràng rằng mọi người chúng ta phải tự độ lấy mình, không ai độ người khác được. Tôi cũng chẳng có môn đệ và tôi khuyên mọi người đừng có theo bất cứ ai mà phải tự tìm ra cái gì đúng, cái gì thật. Tôi nghe là có vài vị trong số người Việt Nam tự phong mình là “Phật sống” – chính tôi cũng từng gặp một trong những vị nầy,-nhưng tôi nghi ngờ về họ lắm. Một lần có người cho tôi nghe về vị “Phật sống” mà tôi đã gặp: -“Thầy ấy đã đắc đạo rồi – Thầy có thể xuất hồn đi bất cứ nơi nào thầy muốn.” Tôi đáp: “Ồ! Vậy sao? Vậy thì tại sao thầy ấy lại tốn phí quá nhiều tiền bạc và thì giờ để đi bằng máy bay và xe hơi thế?” Có lẽ vị nầy có một ít phép thần thông gì đó – cũng như người anh em họ của Đức Phật, Đề Bà Đạt Đa – nhưng điều đó không có nghĩa là ông ta đã chứng ngộ. Chúng ta đừng nên quá nhẹ dạ và dễ tin như vậy!

 

Trên thế giới ngày nay ít có người thực sự giác ngộ. – Có lẽ luôn luôn như vậy – giả dụ chúng ta đi nơi nầy nơi nọ tìm kiếm người đã giác ngộ để cứu độ, có lẽ chúng ta sẽ rất thất vọng. Trước đây không lâu, đã có người viết cho tôi, than trách rằng sức khỏe yếu kém không cho phép bà đi nghe các vị thầy nổi danh thuyết pháp. Tôi cố gắng giải thích cho bà đừng cảm thấy quá áy náy về việc nầy, bởi vì rồi ra, những gì bà mong được nghe từ các vị thầy đó chẳng lẽ lại khác với những gì bà học tập sao? Giáo pháp của Phật chẳng có gì là bí mật hay huyền bí cả. Mọi thứ đều rõ ràng và bày tỏ ra. Đức Phật nói rằng: “Ta không phải là vị thầy “giấu nghề”, dạy bảo vài điều, giấu giếm, giữ bí mật một số khác”. Ngài cũng còn nói: “Trong bao năm qua, Ta chỉ dạy bảo các điều sau: “Đau khổ, Nguyên nhân của Đau khổ. Chấm dứt Đau khổ và con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ”. (Khổ, Tập, Diệt, Đạo), – không bao giờ ở xa cả. Một khi đã nghe, hay học về Tứ Diệu Đế, và đã hiểu rõ pháp nầy – dù không trực nhận ra ít nhất cũng bằng trí năng – thì chúng ta có hành trang để theo Đạo. Do đó, chẳng cần tiếp tục đi sâu vào lý thuyết làm gì? Chắc chắn rằng, trong lúc nghe pháp thoại, có thể trong tâm trí của thính giả sẽ lóe lên tia sáng của nội tâm hay giác ngộ, đặc biệt nếu thính giả bắt đúng đài, thích nghe, và chú tâm.  Nhưng, nếu hiểu rằng Pháp có mặt ở tất cả mọi nơi thì người ta biết ra rằng trực nhận nội tâm và giác ngộ có thể xảy ra ở khắp nơi, bất cứ lúc nào, và không chỉ riêng trong lúc nghe Pháp thoại mà thôi!

 

 

hoànglonghải

đánh máy lại và phổ biến

Comments are closed.