October 20, 2017

Chú bé Sambhava

Suu tam online

Khi gặp một số chuyện tranh cãi nhỏ nhặt, ngây ngô, người ta thường bảo: “chuyện con nít”. Người lớn mà hay hờn dỗi người ta cũng bảo: “tính như con nít”. Xem chừng “con nít”là loại chưa đủ già dặn, có nhiều bốc đồng do sống chưa đủ lâu. Muốn có nhiều kinh nghiệm sống thì cần phải sống lâu, nghĩa là không phải là “trẻ con”. Có nhà triết học cho rằng “trẻ em như tờ giấy trắng, xã hội làm cho nó đen”. Theo lý nhân quả, khi người ta sinh ra đã có nghiệp riêng của mình. Vì thế tính khí, tài năng đã tiềm ẩn trong đó. Vì thế, không thể nói “trẻ em như tờ giấy trắng”. Có những đứa trẻ sinh ra đã ngu đần, đó là vì trong các đời sống trước, nó có những hành vi làm tổn hại đến trí tuệ của nó. Có những đứa trẻ sinh ra đã thông minh, giỏi giang, đó là vì trong các đời sống trước nó đã bồi đắp trí tuệ của nó. Chuyện tiền thân Shambava kể lại về một cậu bé có trí tuệ hơn cả cha, anh của mình.

Ngày xưa, có vị vua danh hiệu Dhananjaya Korabya trị vì tại kinh đô Indapatta ở nước Kuru. Một Bà-la-môn tên Sucirata là tế sư và là quốc sư của nhà vua trong mọi thánh sự cũng như tục sự.

Trong mỗi quốc gia đều có những người có giới hạnh tốt đẹp, những người ngày không tham gia chính sự nhưng lại góp ý kiến cho các vị lãnh đạo về nhiều vấn đề quan trọng của quốc gia. Thời xưa, những vị này thường kiêm luôn cả việc thực hiện những nghi lễ cho triều đình nên gọi là tế sư.

Nhà vua cai trị rất đúng đắn, thực hành bố thí và nhiều việc lành khác. Một ngày kia, ngài muốn hỏi một câu hỏi liên quan đến vấn đề Chân lý. Ngài hỏi vị tế sư.

      Này hỡi tế sư hãy biết rằng
Những gì chân thiện trẫm mong làm,
Vậy khi được hỏi, xin cho biết,
Những việc làm nào đúng thiện chân?

Câu hỏi này không dễ trả lời. Ai cũng làm những điều mà mình thấy là “có lý”. Thông thường “điều có lý”này là các chuẩn mực đạo đức mà một cộng đồng đặt ra. Theo đúng như thế là “tốt”. Không theo đúng như thế là “xấu”. Tuy nhiên, cái mà người này cho là “tốt”, có khi người khác lại cho là “xấu”. Có người cho rằng: “cứ bố thí là tốt”. Người khác lại cho rằng: “bố thí bừa bãi như thế không tốt, chỉ tổ cho kẻ xấu lợidụng”. Vấn đề này thật không đơn giản. Vì thế, việc nhà vua thắc mắc là đúng.

Sucirata không phải là một vị Bồ-tát nên không lý giải được vấn đề. Vị này chẳng hề tỏ ra thông thái mà đành thú nhận sự bất tài của mình qua đoạn kệ:

      Khải tấu đại vương chẳng có ai
Ngoài Vidhu ấy đủ thiên tài
Nói điều kỳ diệu là chân thiện
Chúa thượng hằng mong thực hiện hoài.

Cách thức trả lời của vị tế sư rất đơn giản. Ông thực hiện câu “không biết thì nói là không biết”. Khi thành thực như vậy sẽ tránh được tội nói dối. Nếu “không biết mà nói là biết” thì luôn luôn phải quanh co che đậy khi mọi người hỏi tới vấn đề đó. Khi đó sự yên ổn của bản thân cũng bị đánh mất. Vị tế sư giới thiệu vị bạn học của ông là tế sư Vidhura của vua Ba-la-nại.

Nhà vua nghe lời này liền phán: “vậy thì tôn giả hãy đi ngay”. Nhà vua trao vị tế sư một phiến vàng đáng giá một trăm ngàn đồng tiền vàng để viết lời giải đáp vấn đề lên đó, một xe ngựa để đi đường, một đạo binh hộ tống, một tặng vật.

Nhà vua rất khao khát tìm câu trả lời cho câu hỏi của mình. Việc trao tấm vàng để viết lời giải đáp lên đó chứng tỏ ông rất quý trọng kiến thức và muốn lưu giữ câu trả lời này lâu dài. Đoạn sau của câu chuyện cho biết, nhà vua chính là tiền thân của ngài Ananda. Cho đến khi sinh vào thời Đức Phật tại thế, ngài Ananda vẫn giữ được tính cách đặc biệt của mình: nhớ và lưu giữ Chánh pháp. Vì thế ngài được mệnh danh là “vị thủ kho Chánh pháp”.

Khởi hành từ Indapatta, vị này không đi thẳng đến Ba-la-nại. Trước tiên, ông thăm viếng nhiều bậc hiền nhân. Tuy nhiên, không ai có thể trả lời vấn đề của vua. Vị này đi dần đến Ba-la-nại.

Vấn đề nhà vua đặt ra không thể dễ dàng trả lời. Mặc dù biết rằng Vidhura là người rất giỏi, Sucirata vẫn đi thăm viếng nhiều người hiền khác. Ông hy vọng sẽ có một câu trả lời cho vấn đề này. Hành vi của Sucirata rất đáng để chúng ta học tập. Khi thắc mắc về các vấn đề trong xã hội, ta cần phải đi tham vấn từ nhiều người, nhiều nguồn. Nhờ vậy ta sẽ thấy được nhiều khía cạnh của vấn đề. Trong Phật học, việc này gọi là “thân cận các vị thiện tri thức”.

Trong khi nghỉ tại đó, vị này cùng vài người tùy tùng đến nhà Vidhura vào giờ ăn sáng. Sau khi nhờ thông báo việc đến yết kiến, vị này được mời vào và thấy tế sư Vidhura đang dùng điểm tâm. Lúc bấy giờ, Vidhura đang sưu tập dòng tư tưởng của một số người. Công việc cứ chồng chất như nước lụt sông Hằng. vì thế, ông chẳng có thì giờ giải đáp vấn đề cho Sucirata. Vidhura giới thiệu: “Ta có một con trai rất thông minh, cháu ấy còn mẫn tuệ hơn ta nhiều. Cháu sẽ giải thích rõ cho hiền hữu. Hãy đến gặp cháu”.

Vị tế sư đang chú tâm tới một việc khác. Trong khi đó, vấn đề mà Sucirata hỏi lại quá khó. Vì thế Vidhura giới thiệu Sucirata với con trai cả của mình, người mà ông cho rằng giỏi hơn mình.

Nghe như vậy, Sucirata rời khỏi nhà Vidhura và đến nhà Bhadrakara, con trai cả của Vidhura và thấy chàng đang ngồi ăn điểm tâm với người thân của chàng. Tuy nhiên khi được nghe câu chuyện, Bhadrakara nói: “Thưa Tôn giả, ngay bây giờ, cháu đang có dự mưu dan díu với vợ một người khác. Cho nên trí óc của cháu không thư thái để giải đáp vấn đề. Song em trai cháu tên là Sanjaya còn thông thái hơn cháu nhiều. Xin Tôn giả đi hỏi chàng”.

Chàng trai này rất chân thực. Người đang lo chuyện dan díu trai gái thì còn thì giờ đâu mà để ý tới vấn đề chân lý nữa. Cũng như người cha, chàng thú nhận luôn rằng mình không thể đưa ra lời giải đáp nào. Ta không thể tư vấn cho người khác một vấn đề mà bản thân còn không giải quyết nổi.

Sucirata đến ngay nhà Sanjaya, nhưng chàng trai trả lời: “thưa Tôn giả, cháu đang theo đuổi vợ người, lại sắp đi xuống sông Hằng để qua sông. Sáng tối trong lúc cháu qua sông thường nguy hiểm đến tính mạng, tâm trí cháu đang rối ren, không thể giải đáp câu hỏi của Tôn giả được. Tuy nhiên, em trai cháu là Sambhava, mới lên bảy tuổi đã thông minh tài trí hơn cháu gấp trăm ngàn lần”.

Câu chuyện càng lúc càng kỳ lạ. Thông thường, khi đi hỏi ý kiến, ta thường được giới thiệu đến những người có nhiều kinh nghiệm sống. Nếu người đó tiếp tục giới thiệu thì thường giới thiệu người lớn tuổi hơn. Trong khi đó, Sucirata được giới thiệu với người nhỏ tuổi hơn. Người này lại giới thiệu đến người nhỏ tuổi hơn nữa.

Sucirata nghĩ thâm: “Vấn đề này thật kỳ bí. Chắc là không ai đủ sức giải đáp vấn đề này”. Nghĩ vậy, ngài ngâm hai đoạn kệ:

      Việc lạ lùng này phật ý ta
Chẳng con, chẳng cháu, chằng luôn cha,
Biết phương giải đáp điều mầu nhiệm,
Vậy nếu như chàng cũng chịu thua,
Thì phải chăng đây là cậu bé,
Biết điều chơn thiện thế nào ư?

Nghe vậy, Sanjaya đáp: “Thưa Tôn giả, xin ngài đừng tưởng Sambhava chỉ là đứa trẻ thơ dại. Ví thử chẳng ai giải đáp được vần đề của Tôn giả thì cứ đi hỏi em cháu”. Sucirata nghĩ thầm: “Ta cứ đến hỏi cậu bé này là biết ngay”. Ngài bèn hỏi: “Thế em của cháu đâu?”. Sanjaya liền mở cửa sổ chỉ: “Ngài nhìn cậu bé đàng kia, da óng như vàng ròng, đang chơi cùng các trẻ khác. Đó là em của cháu. Xin cứ đến hỏi, Sambhava sẽ giải đáp vấn đề của ngài với mọi lý lẽ huyền diệu của một vị Phật”. Cậu bé đang đứng, áo quần xốc xếch vắt qua vai, hai tay đang bốc đất.

Câu chuyện càng lúc càng kỳ lạ. Sucirata tham vấn từ Kuru đến Ba-la-nại, chẳng ai trả lời câu hỏi được. Bây giờ được giới thiệu đến gặp đứa trẻ bảy tuổi. Trong lòng ông chắc chăn có nhiều nghi ngờ.

Khi thấy vị Bà-la môn, Sambhava hỏi: “Hiền hữu đến đây có việc gì chăng?”. Vị tế sư đáp: “Này cháu, ta đã đi khắp Thiên Trúc mà không tìm ra người nào đủ tài trí giải đáp vấn đề ta đặt ra, nên nay ta đến đây tìm cháu”. Cậu bé thầm nghĩ: “Họ bảo đây là vấn đề khắp cả cõi Thiên Trúc chưa giải đáp được. Còn ta, ta đã am hiểu thông thạo rồi”. Lúc ấy cậu thấy hỗ thẹn, liền vứt cục đất đang cầm trong tay, sửa sang quần áo đàng hoàng và bảo: “Này Tôn giả, cứ hỏi đi, ta sẽ giải đáp cho ngài với mức độ uyên thâm của một vị Phật”. Vì Bà-la-môn liền hỏi vấn đề chân lý. Bồ tát Sambhava đứng giữa đường phố thuyết giảng chân lý với giọng ngọt như mật, âm thanh vang dội khắp thành Ba-la-nại. Lời giải đáp bắt đầu từ đoạn kệ.

      Đáp lại đức vua, hãy tấu ngài:
Ngày nay không hẳn giống ngày mai,
Thần khuyên chúa thượng nên thông suốt
Nắm lấy thời cơ kịp đến tay.

Lời giải đáp như là vầng trăng soi rọi khắp bầu trời, Sambhava giải đáp với sự tinh thông của một bậc giác ngộ. Dân chúng reo hò vỗ tay vang dậy. Vô sô khăn tay vẫy lên không, họ thả cả đồ trang sức. Vua Ba-la-nại hoan hỷ bày tỏ lòng tôn kính ngưỡng mộ ngài. Tế sư Sucirata tặng thưởng ngài một ngàn cân vàng, viết câu giải đáp bằng son đỏ vào tấm bảng vàng. Khi đến kinh thành Indapatta liền tâu trình nhà vua về câu giải đáp ấy.

Khi chấm dứt Pháp thoại, bậc Đạo sư bảo: “Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ bây giờ, mà ngay từ xưa. Như Lai đã dùng đại trí giải quyết vấn đề”. Ngài nhận diện tiền thân: “Vào lúc bấy giờ vua Dhananjaya là Ananda, Sucirata là Anuruddha, Vidhura là Kassapa, Bhadravaka là Moggalana, chàng Sanjaya là Sariputa và Hiền giả Sambhava chính là Ta vậy”. ■

chu-be-shambava

Comments are closed.